[Giải phẫu] – Cơ vận động nhãn cầu và mi mắt

Phần giải phẫu thường khô khan, và người quan tâm chủ yếu là các bạn học ngành y. Tuy nhiên bạn đọc cũng không nên bỏ qua, và nhất là những người đang bị sụp mí mắt bẩm sinh, sụp mí mắt sau tai nạn, hoặc do một biến cố nào đó. Đang muốn tìm hiểu kỹ về nguyên nhân gây sụp mí mắt thì cũng không nên chỉ lướt quá. Bởi càng nắm rõ nguyên nhân cũng như triệu chứng càng dành cho mình nhiều cơ hội chữa trị tốt hơn. Cần hiểu rõ hơn vui lòng gửi email về địa chỉ: dongysonha86@gmail.com hoặc gọi 0977 95 82820989 116 118 để được tư vấn thêm bệnh sụp mí mắt.

Các bộ phận phụ thuộc của mắt:

Mắt là cơ quan thu nhận cảm giác về thị giác, giúp cho người nhận biết được thế giới bên ngoài, tạo điều kiện cho trí tuệ ngày càng phát triển.
Mắt và bộ phận của thể thống nhất, có liên quan chặt chẽ đến nhiều bộ phần khác.
Bộ phận phụ thuộc mắt gồm; hốc mắt, mi mắt và hệ thống lệ. Hốc mắt và mi mắt là hai bộ phận bảo vệ nhãn cầu.
Hệ thống lệ có các tuyến lệ và các đường dẫn mắt.

HỐC MẮT

Hốc mắt nằm giữa các xương sọ và mặt. Mỗi hốc mắt là một hốc xương chứa nhãn cầu cơ ngoại nhãn, thần kinh, mạch máu và mỡ.

Hình thành và kích thước hốc mắt

Hốc mắt có hình tháp 4 cạnh, đáy quay ra trước và đỉnh hốc quay ra sau. Thành trong của hai hỗ mắt gần như song song nhau và cách nhau 25mm ở người lớn, khoảng cách giữa thành ngoài vào khoảng 100mm.
Ở người Việt Nam trưởng thành:
Thể tích của mỗi hốc mắt vào khoảng 29cc
Chiều cao của hốc mắt là 33,78mm ±1,58; ở nữ 33,5mm ±1,95
Chiều rộng của hố mắt ở nam là 41,89mm ±2,11; ở nữ 40,5mm ±1,96
Các thành hố mắt
Thành hốc mắt gồm có 7 xương: xương sàng, xương trán, xương lệ, xương hàm trên, xương vòm miệng, xương bướm và xương gò má.
Thành trên (tràn hốc mắt)
Tạo thành bởi xương trán và cánh nhỏ xương bướm. Phía ngoài có một hốc xương, trong có tuyến lệ. Phía trong có hố ròng rọc, nằm phía sau bờ hốc mắt 4mm, là chỗ dính của ròng ròng cơ chéo lớn. Phía trên hố mắt tiếp giáp với xương trán.

Thành ngoài hốc mắt
Tạo thành bởi xương gò má và cành lớn xương bướm. Thành ngoài có củ hốc mắt Whitnall là chỗ bám của gân góc ngoài mắt.
Thành ngoài là thành dày nhất của hốc mắt nhưng độ dày không đều. Phía trước thành ngoài hốc mắt rất dày, càng về phía sau thì mỏng dần đi.
Thành ngoài hốc mắt thường tương ứng với xích đạo của nhãn cầu, do đó thị trường phía ngoài rộng hơn. Nhưng nhãn cầu dễ bị tổn thương ở phía ngoài, nơi thành hốc mắt chỉ che chở được khoảng một nửa nhãn cầu.
Thành trong hốc mắt
Tạo thành bởi xương sàng, xương lệ, xương hàm trên và xương bướm. Thành trong là thành mỏng nhất của hốc mắt. Thành này đặc biệt mỏng ở vùng xương lệ. Vì vậy người ta có thể đục vùng này để tạo lỗ xương trong phẫu thuật nối thông túi lệ mũi, vùng này dày nhất của xương lệ ở mào lệ sau.
Thành trong nằm cạnh các xoang sàng, xoang bướm và khoang mũi. XƯơng giấy (bao phủ các xoang sàng dọc theo thành trong) và xương hàm trên ở phần sau trong của xương, thường dễ bị gãy do tác động gián tiếp.
Thành dưới hốc mắt (sàn hốc mắt)
Tạo thành bởi xương hàm trên, xương vòm miệng và xương gò má. Thành dưới hốc mắt có rãnh dưới hốc đi từ sau ra trước, phần trước của rãnh chui vào xương gò má tạo thành một ống xương có dây thần kinh và động mạch dưới hốc đi.

Các khe và lỗ
Các thành hốc mắt và đỉnh hốc mắt có nhiều khe và lỗ quan trọng.
Đỉnh hốc mắt
Khe hom trên
Khe hốc mắt trên được tạo thành bởi cánh nhỏ xương bướm ở phía trong và cánh lớn xương bướm ở phía ngoài. Khe hốc mắt trên đỉnh hốc mắt kéo dài về phía trên và ngoài, giữa trần hốc mắt và thành ngoài hốc mắt. Khe hốc mắt trên là nơi đi qua của các dây thần kinh II, IV, VI, nhánh mắt Willis (V1) của dây thần kinh V và tĩnh mạch mắt trên.

Khe hốc mắt dưới
Khe hốc mắt dưới được giới hạn bởi xương bướm, xương hàm trên, xương vòm miệng, nằm giữa thành ngoài hốc mắt và sàn hốc mắt. Đi qua khe hốc mắt dưới là nhánh thần kinh hàm trên (TK V2) dây thần kinh gò má nhánh tĩnh mạch mắt dưới. Dây thần kinh dưới hốc (một nhanh của dây thần kinh V2) đi vào rãnh dưới hốc mắt.

Ống thị giác
Ống thị giác nằm trong cảnh nhỏ xương bướm dài 8 – 10mm. Đi qua ống thị giác có thần kinh (TK II), đồng mạch mắt và các dây thần kinh giao cảm.
Lỗ thị giác: đầu ống thị giác ở phía hốc mắt gọi là lỗ thị giác. Lỗ thị giác có đường kính 5mm hình tròn hoặc bầu dục. Ở người lớn lỗ thị giác thường có đường kính nhỏ hơn 6,5mm. Lỗ thị giác to là một dấu hiệu thường gặp trong u thần kinh đệm của thị thần kinh.
Lỗ sọ: lỗ trong của ống thị giác.
Chấn thương đụng dập có thể gây vỡ ống thị giác hoặc tụ máu ở đỉnh hốc mắt dẫn đến hại thị thần kinh.

Các thành hốc mắt
Lỗ sàng
Các động mạch sàng trước và sàng sau đi qua lỗ sàng tương ứng ở thành trong hốc mắt dọc theo khớp trán – sàng. Nhiễm trùng các u của xoang có thể qua các lỗ này vào hốc mắt.
Ống gò má – mặt và ống gò má thái dương
Ống gò má – mặt va ống gò má thái dương là nơi có các mạch máu đi đến má và các nhánh của dây thần kinh gò má đi đến hố sọ giữa qua thành ngoài hốc mắt
Ngách lệ mũi
Ngách lệ mũi đi từ hố tuyến lệ đến ngách mũi dưới bên dưới xương noãn dưới. Ống lệ từ túi lệ đi qua ngách lệ mũi đến mũi.

Các phần tử nằm trong hốc mắt
Ngoài nhãn cầu là bộ phận quan trọng nằm phía trước, trong hốc mắt còn có các thành phần sau:
Màng xương hốc mắt
Màng xương hốc mắt bao bọc xương hốc mắt. Ở định hốc mắt, màng xương hoà nhập với màng cứng bao quanh thị thần kinh. Ở phía, màng xương hốc mắt tiếp nối với vách hốc mắt và mang xương mặt. Đường hoà nhập của các lớp này gọi là cung rìa. Đường này dính với xương một cách lỏng lẻo, trừ ở bờ hốc mắt, các đường khớp, khe, lỗ, ống. Màng xương được chi phối bởi các dây thần kinh cảm giác của hốc mắt.
Màng xương hốc mắt là một màng xơ cơ mỏng. Màng xương đặc biệt có vai trò tích cực nhờ có những thớ cơ trơn được tăng cường. Về phương diện cáu trúc người ta có thể phân biệt hai phần:

Phần xơ: các thớ xếp theo hướng chéo, chia ra làm hai lớp. Các thớ ở trong mỏng, từ lớp này tách ra những vách ngăn chia thành các ổ trong hốc mắt.

Phần cơ: gọi là cơ hốc mắt của Muller: đây là một lớp cơ trơn, mỏng, dính quanh khe hốc mắt và lẫn mất trong lớp xơ cơ. Phần cơ này nhận nhiều mạng thần kinh từ hạch bướm khẩu cai, nên cho rằng có vai trò quan trọng trong hiện tượng thụt nhãn cầu trong tổn hại thần kinh giao cảm.
Trong phẫu thuật hốc mắt, có thể phẫu tích dễ dàng màng xương ra khỏi thành xương hốc mắt.

Vòng Zinn
Vòng Zinn là vòng xơ được tạo thành bởi nguyên uỷ chung của các cơ thẳng. Vòng Zinn bao quanh lỗ thị giác và phần giữa của khe hốc mắt trên. Nguyên uỷ phía trên của cơ thẳng ngoài chia khe hốc mắt trên thành hai ngăn:

Phần khe hốc mắt trên được bao quanh bởi vòng Zinn gọi là lỗ vận nhãn. Đi qua lỗ vận nhãn vào trong chóp cơ có dây thần kinh III (nhánh trên và nhánh dưới), dây thần kinh VI và nhánh mũi (thần kinh V1).

Phần bên ngoài của khe hốc mắt trên (ngoài vòng Zinn) là nưi đi qua của dây thần kinh trán (dây thần kinh V1), dây thần kinh IV, tĩnh mạch mắt trên, các thành phần này đi ngoài chóp cơ.

Bao tenon
Bao tenon là một bao xơ bọc quanh nhãn cầu và có các lỗ vào của các cơ và thị thần kinh. Bao Tenon có hai lá: lá ngoài (lá thành) tiếp giáp với tổ chức mô của hố mắt, lá trong (lá tạng). Giữa hai lá là khoảng ảo (khoảng thượng củng mạc của Schawlbe). Lá ngoài lá trong của bao Tenon hợp chất ở hai cực của nhãn cầu: phía trước cách rìa giác mạc khoảng 3mm, phía sau ở lỗ vào của thị thần kinh, bao Tenon dính chặt vào củng mạc.

Các cơ ngoại nhãn (các cơ vận động nhãn cầu và mi mắt)

Các cơ ngoại nhãn tạo ra chuyển động của nhãn cầu và chuyển động đồng bộ của mi mắt. Tất cả các ngoại nhãn (trừ cơ chéo bé) đều bắt đầu từ đỉnh mắt và đi về phía trước bám vào nhãn cầu hoặc mi mắt. Bốn cơ thẳng xuất phát từ vòng Zinn. Cơ nâng mi bắt nguồn từ phía trên vòng Zinn ở cánh nhỏ xương bướm. Cơ chéo lớn xuất phát ở phía trong hơn so với cơ nâng mi và đi ra trước qua ròng rọc ở bờ trên trong hốc mắt. Cơ chéo bé bắt nguồn từ phần trước của sàn hốc mắt, phía sau ngoài túi lệ.

Giải phẫu cơ vận động nhãn cầu và mi mắt
Hình ảnh giải phẫu các cơ ngoại nhãn tạo ra chuyển động của nhãn cầu và chuyển động đồng bộ của mi mắt

Các cơ vận động nhãn cầu: có 4 cơ thẳng và 2 cơ chéo

1.1. Bốn cơ thẳng:

Từ chỗ xuất phát là vòng Zinn, bốn cơ thẳng đi về phía trước tạo thành một chóp cơ, giữa các cơ có màng liên cơ. Trong chóp cơ có thị thần kinh hạch mi, mạch máu và dây thần kinh mi, động mạch và tĩnh mạch mắt.

[Giải phẫu] - Cơ vận động nhãn cầu và mi mắt 2
4 cơ thẳng vận động nhãn cầu
  • Cơ thẳng ngoài: Dài khoảng 40,6mm, chạy dọc theo thành nhoài hốc mắt. Cơ thẳng ngoài tận dùng bằng một đoạn gân dài 8,8mm. Bám tận cách rìa giác mạc 7mm, bám thẳng và cân đối với kinh tuyến ngang.
    + Động mạch cung cấp máu là nhánh của động mạch lệ.
    + Cơ thẳng ngoài chịu trách nhiệm đưa nhãn cầu ra ngoài.
    + Thần kinh chi phối. Dây thần kinh VI.
  • Cơ thẳng trong: Chạy dọc theo thành trong hốc mắt, tận cùng bằng một gân dài từ 5,7mm đến 6mm rộng 7mm. Chỗ bám cách rìa giác mạc từ 5 – 6mm cân đối với kinh tuyến ngang. Thân cơ rộng, dài 40mm, khoẻ.
    + Động mạch cung cấp máu là nhánh cơ dưới của động mạch mắt.
    + Động tác đưa nhãn cầu vào trong.
    + Thần kinh chi phối: nhánh của dây thần kinh III.
  • Cơ thẳng trên: Dài 41,8mm đi từ phần trên vòng Zinn theo sát thành trên của hốc mắt. Phía trên cơ này co cơ nâng mi trên. Hai bao của cơ thẳng trên và cơ nâng mi trên dính liền với nhau. Cơ thẳng trên tận cùng bằng một đoạn gân dài 5,8mm, rộng 10mm, cách rìa giác mạc 6 – 8mm.
    + Thần kinh chi phối là nhánh trên của dây thần kinh III. Động mạch cung cấp máu là nhánh cơ trên của động mạch mắt. Động tác: khi mắt ở vị trí nguyên phát, tác dụng chính của cơ là đưa nhãn cầu lên trên, tác dụng dưới liên quan chặt chẽ với cơ chéo bé nằm sát nhay phía trước. Ở phần trước hai bao cơ dính với nhau.
  • Cơ thẳng dưới: Tận cùng bằng một đoạn gân dài 5,5mm, rộng 7,4mm cách rìa giác mạc khoảng 6,5 – 7mm.
    + Thần kinh chi phối: nhánh của dây thần kinh III.
    + Động mạch cung cấp máu là nhánh của động mạch cơ.
    + Động tác: khi mắt ở vị trí nguyên phát, tác dụng chính của cơ là đưa nhãn cầu xuống dưới, tác dụng phụ là đưa nhãn cầu vào trong và xoáy nhãn cầu ra.

1.2. Hai cơ chéo:

  • Cơ chéo trên: từ đỉnh hốc mắt, cơ chéo đi ra trước hướng về góc trên trong của hốc mắt. Phần cơ dài 30mm thân tròn, tiếp sau là một gần dài 10mm rồi chui vào ròng rọc cơ chéo lớn, dải gân dài 20mm chạy chéo xuống dưới và ra phía sau ngoài, tạo với thân cơ chéo một góc 55 độ 55 độ. Dải gân hình nan quạt bám ở nửa sau nhãn cầu phía trên ngoài.
    + Thần kinh chi phối: Dây thần kinh IV. Động mạch cung cấp máu là nhánh trên của động mạch cơ.
    + Động tác: Khi mắt ở vị trí nguyên phát, tác dụng chính của cơ là xoáy nhãn cầu vào trong, tác dụng phụ là đưa nhãn cầu xuống dưới và ra ngoài.
  • Cơ chéo dưới (bé): cơ chéo bé xuất phát từ góc trong của hốc mắt ngay phía sau và ngoài của túi kệ. Từ nơi xuất phát thân cơ hướng về phía sau tạo với trục của nhãn cầu ôm lấy phần dưới nhãn cầu và cơ thẳng dưới. Cơ chéo bé nhất (chỉ dài 35 – 37mm), cơ bám tận vào góc dưới ngoài của cực sau nhãn cầu bằng một dải gân dài 3mm. Động mạch cung cấp máu là nhánh dưới của động mạch cơ.
    + Dây thần kinh chi phối: Dây thân kinh III.
    + Động tác: khi mắt ở vị trí nguyên phát tác dụng chính của cơ là xoáy nhãn cầu ra ngoài, tác dụng là đưa nhãn cầu lên trên và ra ngoài.

2. Các cơ của mi mắt:

Hình ảnh giải phẫu cơ vòng mi và cơ nâng mí
Hình ảnh giải phẫu Cơ vòng mi và Cơ nâng mí (cắt ngang)
  • Cơ vòng cung mi: Cơ vòng cung mi là một cơ vòng dẹt, có nhiều thớ cơ hình tròn đồng tâm xếp chồng lên nhau. Cơ nằm sau da mi, trước sụn và vách ngăn hốc mắt. Cơ vòng cung mi có hai phần: phần thuộc mi mắt và phần thuộc hốc mắt.
    + Cơ vòng cung mi do dây thần kinh VII điều khiển.
    + Động tác nhắm mắt.
Cơ vòng cung mi
Cơ vòng cung mi là một cơ vòng dẹt, có nhiều thớ cơ hình tròn đồng tâm xếp chồng lên nhau

Cơ nâng mi trên: Cơ nâng mi trên bắt nguồn từ phía trên vòng Zinn, đi trong hốc mắt ra phía trước. Cơ nâng mi trên nằm trên cơ thẳng trên, đến bờ hốc mắt thân cơ. Kết thúc bằng một dải gân dẹt, rộng suốt chiều dài của mi trên.
+ Cơ nâng mi trên do dây thần kinh III điều khiển.
+ Động tác mở mắt.

[Giải phẫu] - Cơ vận động nhãn cầu và mi mắt 3

Ở phần trước hốc mắt, các cơ thẳng liên kết với nhau bởi một màng gọi là vách liên cơ. Màng này tạo thành một vòng chia mô mỡ hốc mắt thành hai phần: Phần mô nội và phần mô ngoại chóp. Hốc mắt còn được phân chia bởi nhiều vách dạng sợi nhỏ liên kết với nhau và nâng đỡ nhãn cầu thị thần kinh và các cơ ngoại nhãn.

Mời các bạn đọc thêm: Dây vận nhãn chung (dây III) là gì? Tại sao tổn thương dây vận nhãn chung gây sụp mí mắt?

Nhận thông báo qua Email
Nhận thông báo cho
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận