Sụp mí mắt dưới góc nhìn Đông Y

Sụp mí mắt Đông y gọi là Thượng Bào Hạ Thùy

Mi mắt thuộc Nhục Luân liên hệ với Tỳ Vị. Đa số do Tỳ Vị khơng điều hịa, khí huyết khơng được nuơi dưỡng, phong tà thừa cơ xâm nhập, nhục luân khơng được nuơi dưỡng, mạch lạc ngưng trệ gây nên bệnh.

Cơ sở lý luận về mắt trong Đông y

Mắt là bộ phận quan trọng của cơ thể. Theo đông y mắt là khiếu của tạng can, nhưng đồng thời cũng là một hình ảnh thu gọn của nội tạng nên mắt là biểu hiện của tạng can và các phủ tạng khác, cũng là của toàn thân.

Quan hệ hữu cơ tạng phủ, kinh lạc với mắt bảo đảm công năng bình thường của mắt. Nếu như tạng phủ có bệnh thường thường dẫn đến bệnh mắt, căn nguyên của bệnh mắt ở trong tạng phủ, khi chẩn trị bệnh mắt vẩn cần xuất phát từ quan điểm chỉnh thể, vận dụng phép biện chứng thí trị

Biện chứng bệnh mắt, lấy bát cương làm cơ sở, kết hợp với học thuyết “Ngũ luân” riêng của bệnh mắt, tiến hành phân tích tổng hợp làm ra luận trị.

Học thuyết ngũ luân

Năm bộ phận ở mắt là : Nhục luân (mí mắt trên và dưới), huyết luân (khoé  mắt trong và ngoài), khí  luân (tròng trắng), phong luân (tròng  đen), thuỷ luân (con ngươi).

Ngũ luân gồm: Nhục luân, phong luân, thủy luân, khí luân và huyết luân
Ngũ luân gồm: Nhục luân, phong luân, thủy luân, khí luân và huyết luân

Học thuyết “Ngũ luân” của nhãn khoa Đông y đã đem mắt chia làm 5 bộ phận phận thuộc ngũ tạng, mượn để thuyết minh quan hệ sinh lý, bệnh lý của mắt với tạng phủ, làm thành một loại lý luận của biện chứng thí trị.

  • Nhục luân: Mi mắt (bao quát da, cơ nhục, sụn mi, và kết mạc mi) thuộc tỳ. Tỳ chủ cơ nhục, cho nên gọi là nhục luân.
  • Huyết luân: Hai khóe mắt (bao quát kết mạc của hai khoé mắt, da và tuyến nước mắt) thuộc tâm. Tâm chủ huyết, cho nên gọi là huyết luân.
  • Khí luân: Tròng trắng mắt (bao quát cầu kết mạc và vùng trước củng mạc) thuộc phế. Phế chủ khí, cho nên gọi là khí luân.
  • Phong luân: Tròng đen (bao quát giác mạc, hậu phòng, mống mắt) thuộc can. Can chủ phong, cho nên gọi là phong luân.
  • Thuỷ luân: Lỗ đồng từ (tức là đồng thần. Bao quát tổ chức phía sau của lỗ đồng tử, như thấu kính thể, thuỷ tinh thể, cầu củng mạc, thị võng mạc và thị thần kinh) thuộc thận. Thận chủ thuỷ, cho nên gọi là thuỷ luân.

Do ở quan hệ biểu lý của tạng phủ, ngũ luân lại phân biệt với Vị, Tiểu trường, Đại trường, Đảm và Bàng quang quan hệ với nhau.

Thuyết Bát quách

Là một phương pháp định vị thứ hai ở mắt của Đông y gồm 8 phần: lôi, phong, sơn, thuỷ, thiên, trạch, địa, hoả

Sụp mí mắt dưới góc nhìn Đông Y 1
Bát quách là một phương pháp định vị thứ hai ở mắt của Đông y gồm 8 phần: lôi, phong, sơn, thuỷ, thiên, trạch, địa, hoả

1. Ngoại chứng (bệnh phía ngoài của mắt):

Thường thuộc biểu, thuộc trực, thuộc dương. Nội chứng (bệnh phía trong mắt): thường thuộc lý, thuộc hư, thuộc âm.

2. Thị lực:

Đột nhiên thị lực xuống thấp, thường thuộc thực chứng. Mơ hồ dần dần, thường thuộc hư chứng.

3. Mí mắt sưng trướng:

Hồng mà cứng thuộc thực. Mềm mà không hồng thường thuộc hư.

4. Kết mạc sung huyết:

Toàn kết mạc sung huyết hồng tươi thường thuộc thực, thuộc nhiệt. Sung huyết cục bộ, sắc hồng nhạt, thường thuộc âm hư; có nhiệt, huyết quản thô to mà sắc hồng thắm, thường thuộc huyết nhiệt có ứ.

5. Giác mạc tẩm ướt:

Sắc vàng mà lồi ra thường thuộc thực, thuộc nhiệt. Sắc trắng nhạt mà lõm hãm thường thuộc hư (khí hư).

6. Giác mạc sinh huyết quản mới:

Thô to sắc tím, thường thuộc huyết nhiệt có ứ. Huyết quản nhỏ mà sắc hồng nhạt thường thuộc âm hư.

7. Đầu đau, mắt đau:

Đau đớn liên tục thường thuộc thực. Đau đớn có khoảng cách thường thuộc hư.

8. Nước mắt:

Nước mắt lạnh của ống mũi mắt tắc hoặc hẹp, thường thuộc hư, thuộc hàn. Nước mắt nóng, thường thuộc thực, thuộc nhiệt.

9. Nhử mắt:

Vàng đặc mà nhiều, thường thuộc thực nhiệt. Vàng nhạt mà lỏng, thường thuộc hư nhiệt.

10. Mắt trướng:

Có kèm vùng mắt sung huyết, thường thuộc thực hỏa. Mắt không sung huyết thường thuộc hư hoả.

Sụp mí mắt đông y gọi là bệnh Thượng Bào Hạ Thùy. Theo thuyết Ngũ luân thì mi mắt thuộc Nhục Luân.

Sụp mí mắt theo Y Học Cổ Truyền thường gặp do những nguyên nhân sau:

  • Do tiên thiên bất túc, nguyên dương hư yếu không ôn dưỡng được Tỳ thổ, nhục luân không được nuôi dưỡng gây nên bệnh.
  • Do hậu thiên không được nuôi dưỡng, Tỳ Vị bất hòa, việc sinh hóa khí huyết không đủ làm mi mắt không được nuôi dưỡng vì vậy gây nên bệnh.
  • Hoặc do gân cơ vùng mắt không được nuôi dưỡng, phong tà từ bên ngoài xâm nhập vào mi mắt khiến cho nhục luân không được nuôi dưỡng, mạch lạc bị ngưng trệ gây nên bệnh.
  • Cũng có khi do những nguyên nhân bất nội ngoại nhân như bị chấn thương, can thiệp phẫu thuật cắt mí gây nên.
  • Do đó việc điều trị sụp mí, cách nâng mí mắt bằng đông y sẽ phải dựa theo từng nguyên nhân để có những phác đồ điều trị thích hợp.

Trên lâm sàng thường gặp một số dạng sau:

1-Tỳ Thận Dương Hư

Chứng: Mi mắt sụp xuống, không mở lên được, nhìn một hình thành hai, phải nhướng trán, phình miệng hoặc dùng tay mới nâng mi mắt lên được.

2-Tỳ Khí Hư Yếu

Chứng: Mi mắt sụp xuống, lúc đầu sụp hơi nhẹ, lâu ngày nặng dần, mắt không chuyển động được, nhìn một hình thành hai, cơ thể mỏi mệt không có sức, thậm chí nuốt cũng khó khăn.

3- Phong Trúng Lạc Của Mi Mắt

Chứng: Mi mắt sụp xuống, lúc đầu sụp hơi nhẹ, lâu ngày nặng dần, mắt không chuyển động được, nhìn một hình thành hai, sợ gió, sợ lạnh, đầu đau, mạch Phù hoặc có dấu hiệu cảm phong hàn.

Tìm hiểu thêm: Phương pháp chữa sụp mí mắt bằng Đông Y thế nào?

Nhận thông báo qua Email
Nhận thông báo cho
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận